Danh mục bài viết
Tin tức
Rau và trái cây tốt hơn thuốc bổ
Để bảo vệ sức khỏe và chống lão hoá, cơ thể cần các chất kháng ôxy hóa như vita...
Câu chuyện về cây diệp hạ châu
Nicole Maxwell, tác giả cuốn Witch Doctor?s Apprentice, được xuất bản lần đầu t...
Cây dừa cạn, nguyên liệu chế tạo thuốc trị ung thư
Tác giả : GS. ÐOÀN THỊ NHU...
Cải thiện sức khỏe người nhiễm HIV bằng thảo dược
Các nhà khoa học Việt Nam vừa công bố những dược chất chiết xuất từ thảo mộc có...
Cần sa ngừa bệnh Alzheimer
Các chất hoạt tính trong cần sa có thể làm giảm triệu chứng viêm sưng trong bện...
Dành cho bệnh nhân
Số người truy cập: 998135
Đang trực tuyến: 1
Tin tức » Tin Mới
UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
 UTERUS CERVIX CANCER

LY. Lê Đắc Quý
I.ĐẠI CƯƠNG

Ở nhiều quốc gia, Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là ung thư thường gặp ở phụ nữ, sau ung thư vú. Ở những giai đoạn muộn việc điều trị bệnh này phức tạp, tốn kém và thường thất bại. Diễn biến của UTCTC là phát triển chậm và khu trú tại chỗ.
Theo số liệu của Hiệp hội quốc tế chống ung thư (UICC), UTCTC chiếm 12% các bệnh ác tính của phụ nữ; Tuổi mắc bệnh trung bình khoảng 48-52.
Theo thống kê của Bệnh viện K trung ương Hà Nội, UTCTC chiếm khoảng 6% ung thư các loại.
Ở Liên hiệp vương quôc Anh hàng năm có khoảng 4000 phụ nữ mắc bệnh UTCTC xâm lấn.

II.BỆNH NGUYÊN

1. Điều kiện dễ mắc bệnh :
-Lập gia đình sớm.
-Quan hệ tình dục sớm, lần đầu tiên lúc còn quá trẻ; quan hệ với nhiều đàn ông, quần hôn.
-Sinh đẻ sớm, hoặc đẻ nhiều.
-Thiếu săn sóc vệ sinh sau khi giao hợp.
-Thiếu vệ sinh cá nhân và vệ sinh sinh dục.
-Nhiễm các bệnh hoa liễu.
-Viêm cổ tử cung mạn tính.
-Bựa quy đầu.
-Acid desoxyribonucleic của tinh dịch.
-Nhiễm virus herpes simplex 2 (HSV-2). [1]. Nhiễm HSV gây nên những tế bào to đa nhân trong phiến đồ tế bào học. Hình 1.
-Nhiễm virus u nhú gai loại HPV 16-18. [2]
-U nhú cổ tử cung.
-Dùng thuốc ức chế miễn dịch, thuốc tránh thai chứa steroid. Có thể có một sự suy giảm nào đó trong hệ thống miễn dịch của người phụ nữ. Các bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch để phòng ngừa loại trừ mảnh ghép có tỷ lệ gia tăng UTCTC cao, đặc biệt là ung thư biểu mô. Viên thuốc tránh thai chứa steroid có lẽ cũng có một tác dụng ức chế miễn dịch nào đó, nên có căn cứ để nghĩ rằng: nó kích thích sự phát triển của biểu mô không điển hình.
Theo quy luật thì có một yếu tố biến dị di truyền nào đó nảy sinh thứ phát trong khi giao hợp tác động đến quá trình dị sản biểu mô bất thường, là trạng thái diễn ra trước ung thư biểu mô.
Dị sản biểu mô lát tầng biểu hiện mạnh mẽ nhất khi còn ở trong cổ tử cung, ở tuổi thanh niên và lúc có thai lần đầu, người ta thấy rằng, các thiếu niên hoạt động tình dục mạnh có phiến đồ cổ tử cung bất thường ở tỷ lệ cao hơn nhiều lần. Các phụ nữ dâm dục có nhiều khả năng gặp một người đàn ông có tinh dịch chứa một yếu tố gây ung thư hơn.

2.Phụ nữ thuộc nhóm ít mắc bệnh : Trinh nữ, tu hành, phụ nữ Do thái, phụ nữ ở các cộng đồng có tục cắt da quy đầu.

III.CHẨN ĐOÁN

1.TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG :

-Triệu chứng điển hình là ra huyết bất thường ở âm đạo giữa 2 kỳ kinh, sau giao hợp, đại tiện gắng sức, sau mãn kinh, v.v…
-Khí hư nhiều, hôi do khối u sớm bị nhiễm khuẩn do vi sinh vật ở âm đạo.
-Đau hạ vị, đau ngang cột sống thắt lưng. Đau là một triệu chứng muộn, xuất hiện khi khối u xâm lấn tới thành chậu hông và chèn ép vào các dây thần kinh. Đau có thể tại chỗ, hoặc đau ngang cột sống thắt lưng, đau lan xuống hai bên đùi do chèn ép, xâm lấn dây thần kinh hông.
-Biếng ăn, sút cân, sốt nhẹ, thiếu máu, yếu ớt, hay hoảng sợ. Đó là hậu quả của tình trạng nhiễm khuẩn kéo dài, là đặc trưng của các trường hợp ung thư đã nặng.
-Ở giai đoạn muộn có những triệu chứng dò bàng quang-âm đạo, dò trực tràng-âm đạo.

2.CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN :

-Hỏi bệnh (Vấn chẩn) :
+Tiền sử sinh đẻ.
+Bệnh phụ khoa đã mắc.
+Thời gian bắt đầu có dấu hiệu bệnh và diễn biến của bệnh.

-Khám phụ khoa :
+Bằng mỏ vịt hay van âm đạo và thăm bằng găng tay.
Ở các giai đoạn còn sớm ung thư không rõ rệt, cổ tử cung có cảm giác và trông giống như một loét trợt đơn thuần. Hình 2. Một ung thư trong buồng cổ tử cung nếu ở giai đoạn sớm, có thể không trông thấy mà cũng chẳng sờ được. Hình 3. Khi nó phát triển lên và xâm nhiễm thì cổ tử cung có hình “thùng rượu” đặc hiệu, nhưng lỗ ngoài cổ tử cung ít nhiều trông vẫn có vẻ bình thường một thời gian. Hình 4 UTCTC giai đoạn phát triển vừa.
Khi UTCTC đã qua giai đoạn sớm, khi thăm khám thấy cổ tử cung cứng như đá, không di động do các cùng đồ âm đạo bị cứng; khi chạm tới thì tổ chức mùn bị chảy máu dễ dàng. Hình 5.
+Làm nghiệm pháp Schiller.
+Thăm trực tràng.

-Soi cổ tử cung : Hình 6.
Soi cổ tử cung là quan sát cổ tử cung bằng hai mắt với độ phóng đại gấp 20 lần bình thường, giúp thầy thuốc chuyên soi cổ tử cung phân biệt hai loại biểu mô : biểu mô gốc thuộc loại lát tầng hoặc loại trụ, và biểu mô lát tầng dị sản, xuất phát tại vùng biến đổi sinh lý; vùng biến đổi này nằm ở giữa buồng cổ tử cung và nối tiếp giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ. Lúc mới sinh nó được che phủ bởi biểu mô trụ, và vào 3 giai đoạn tương ứng với tình trạng kích thích tối đa của estrogen là giai đoạn chu sinh, tuổi bắt đầu thấy kinh và lần có thai đầu tiên; nó dễ chuyển thành trạng thái dị sản biểu mô lát tầng có thể chuyển thành loạn sản. Hình 7.
Trước khi khám bằng kính soi cổ tử cung thì cổ tử cung được lau bằng acid acetic. Bất luận một vùng nào, hoạt động tế bào gia tăng đều trở nên trắng, là vùng cần phải chú ý.
Biểu mô không điển hình có thể ở dạng lát đá (Hình 8) hay có hình ảnh ngói lợp, vì sự sắp xếp của các mao mạch biểu mô.
Một người soi cổ tử cung có kinh nghiệm có thể phát hiện ra những vùng nghi ngờ với độ chính xác cao, làm nhiều sinh thiết bằng kìm bấm mà không gây thương tổn, giúp chẩn đoán tổn thương viêm, tiền ung thư hay ung thư thực sự.

-Chẩn đoán tế bào học hay Test “PAP” :
Là phương pháp tốt nhất để phát hiện những tổn thương tiền ung thư và còn được sử dụng trong sàng lọc phát hiện UTCTC ở cộng đồng.

-Làm phiến đồ cổ tử cung. [3]

-Chẩn đoán giải phẫu bệnh lý :
+Ba loại biến đổi ở biểu mô cổ tử cung dẫn tới ung thư xâm lấn là : Dị sản biểu mô lát tầng, Loạn sản, và Ung thư trong biểu mô.
a)Dị sản biểu mô lát tầng là một biến đổi lành tính, hầu như bình thường ở phụ nữ đã sinh đẻ, do thầy thuốc phát hiện ra một cách ngẫu nhiên. Sự tăng sinh của các tế bào dự trữ (Hình 9) nằm dưới biểu mô trụ được biến đổi dị sản (Hình 10) dần thành biểu mô lát tầng (Hình 11), giống như của âm đạo.
b)Loạn sản. Ở một số bệnh nhân biểu mô dạng lát tầng không nằm yên, thường xuyên có tình trạng tăng sinh, phát triển lộn xộn, được coi như có ý nghĩa ác tính. Hiện tượng phân tầng của biểu mô lát tầng mất đi; các tế bào non có tình trạng phân bào, thấy ở mọi lớp. (Hình 12). Loạn sản phát hiện được nhờ làm phiến đồ tế bào. Dùng nghiệm pháp Schiller chấm dung dịch iod vào cổ tử cung : các tế bào chứa glycogen bình thường bắt màu nâu; các tế bào loạn sản không chứa glycogen không bắt màu.
c)Ung thư trong biểu mô. Ung thư trong biểu mô là những biến đổi bệnh lý tế bào thành ung thư còn ở trong lớp biểu mô tử cung, nhưng chưa có biểu hiện xâm lấn vào tổ chức đệm. Không có đặc điểm lâm sàng gì, và bề ngoài cổ tử cung có thể như bình thường. Một thảm mỏng biểu mô hoàn toàn loạn sản bò trên bề mặt cổ tử cung. (Hình 13). Loạn sản được chia thành các giai đoạn nhẹ, vừa và nặng. Người ta cho rằng, biểu mô đi qua các giai đoạn này trước khi chuyển thành ác tính. Sự phân loại về mặt hình thái được chấp nhận hiện nay dưới tiêu đề khối u tân tạo trong biểu mô cổ tử cung (CIN) :
*CIN 1 tương đương với loạn sản nhẹ.
*CIN 2 tương đương với loạn sản vừa.
*CIN 3 tương đương với loạn sản nặng hay ung thư trong biểu mô. (Hình 14).
d)Ung thư trong biểu mô khi mang mang thai.
Trong lúc mang thai lại thường xuyên phát hiện phiến đồ bất thường thì việc khảo sát kỹ lưỡng hơn vấp phải nguy cơ chảy máu nặng nếu làm khoét chóp trong lúc có thai, và một phẫu thuật như vậy không nên tiến hành. Tình trạng chảy máu như vậy đôi khi đã bắt buộc phải cắt tử cung và có nhiều nguy cơ bị sẩy thai. Lúc này soi tử cung được coi là phương pháp phát hiện đáng tin cậy. Điều khó khăn nảy sinh là khi nghi ngờ có xâm lấn vi thể; và trong các trường hợp đó có khi cần thiết tiến hành phương pháp sinh thiết cắt góc. CIN3 không bị ảnh hưởng bởi thai nghén và các thăm dò sâu hơn, việc điều trị có thể hoãn lại. Nếu phát hiện ra ung thư xâm lấn thì nên khuyên phá thai.
e)UTCTC trong khi có thai.
Đây là loại u ác tính hay gặp nhất của đường sinh dục, thường xuất hiện ở biểu mô lỗ ngoài cổ tử cung được gọi là ung thư biểu mô lát tầng hoặc ung thư dạng biểu bì. Hình 15.
Có khoảng 1/20 trường hợp xuất hiện ở niêm mạc tuyến của buồng cổ tử cung, gọi là ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma). Hình 16.
Một khối u trong buồng cổ tử cung là u xuất hiện trong ống cổ tử cung có thể là biểu mô lát tầng hay biểu mô tuyến. Một u tuyến có thể bắt đầu tại lỗ ngoài cổ tử cung; nhưng trong tuyệt đại bộ phận trường hợp thì khối u đã lan tràn ở cổ tử cung với mức độ rộng, và có quá nhiều biến đổi mà khi xét nghiệm tế bào học không thể khẳng định được nguồn gốc của nó. Hình 17.
Khối u có thể tạo nên một bướu dạng tăng sinh lồi vào trong âm đạo, gọi là u xùi, u hình cái hoa, u lộn ra ngoài. Loại u này dễ bị chảy máu và sớm bị loét. Hình 18.
Đôi khi khối u lan tràn trong mô cổ tử cung, được gọi là u nội phát, u đào sâu, u lộn vào trong; cổ tử cung rắn cứng như đá và phình to hình thùng rượu. Hình 19.
+Đại thể :
UTCTC khởi đầu từ lớp biểu mô của môi sau, lỗ trong hoặc của môi trước cổ tử cung.
Giai đoạn đầu thường không có hình ảnh đặc biệt, khi phát triển có 3 hình dạng đại thể khác nhau :
*Dạng chồi (sùi).
*Dạng cứng thâm nhiễm.
*Dạng loét.
+Vi thể :
*Ung thư biểu mô tế bào vảy (Carcinoma epidermoide) chiếm 95-97%.
*Số còn lại gồm có : Ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma), các dạng không biệt hoá, các ung thư liên kết (sarcoma).
Ung thư biểu mô tuyến có khối u xuất phát từ biểu mô trụ của cổ tử cung hay từ các tuyến cổ tử cung. Với độ phóng đại nhỏ, các chồi ống tuyến lan tràn từ lòng tuyến ra với đặc trưng là sự hình thành các tuyến tràn ngập, nhưng chỉ có rất ít tổ chức đệm xơ. Hình 20. Với độ phóng đại lớn, các tế bào thể hiện các đặc điểm ác tính thường gặp như kích thước, hình dạng không đều, nhân bắt màu đậm. Biểu mô trụ có thể thấy các lớp tế bào chồng chất lên nhau. Hình 21.
Quan sát vi thể cho thấy nhiều hình thái không xác định được. Đôi khi cả 2 loại tế bào ác tính của biểu mô tuyến và biểu mô lát tầng cùng xuất hiện. U biểu mô tuyến lát tầng và trạng thái dị sản biểu mô lát tầng là thường gặp. Biểu mô lát tầng có thể bắt nguồn từ biểu mô dị sản. Hình 22.
*Loại ung thư biểu mô chưa xâm lấn còn gọi là ung thư tại chỗ (carcinoma insitu) hay là ung thư giai đoạn 0.

-Các phương pháp chẩn đoán khác :
+Chụp bạch mạch.
+Soi bàng quang.
+Chụp X quang buồng, ống, cổ tử cung.

3.TIẾN TRIỂN CỦA UTCTC :

-Ung thư xâm lấn vi thể là giai đoạn giữa CIN3 và ung thư xâm lấn về phương diện lâm sàng. Đặc điểm của nó là tế bào ung thư lan tràn qua màng đáy tới độ sâu 3mm. Mức độ ác tính phụ thuộc vào 3 yếu tố :
1.Chiều sâu xâm lấn của ung thư dưới màng đáy và chiều rộng diện ung thư đang tiến triển.
2.Sự xâm lấn vào các kênh bạch huyết và hệ mao mạch.
3.Một hình thái sừng hươu của khối u đang tiến triển. Hình 24.
Việc nhân định về giải phẫu bệnh lý đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm. Việc chẩn đoán hoàn toàn dựa vào xét nghiệm tế bào học. Các thầy thuốc soi cổ tử cung có thể xác định được các vùng có khả năng bị xâm lấn vi thể với mức độ chính xác cao.
Phần đông các thầy thuốc phụ khoa cho rằng, cách điều trị tốt nhất là phẫu thuật cắt tử cung đơn thuần kết hợp lấy đi một khoanh âm đạo dài 1cm là đủ; song có thể phải áp dụng phương pháp điều trị cơ bản hơn nếu mức độ xâm lấn nặng hơn.

-UTCTC xâm lấn vào các cơ quan lân cận thường xảy ra trước tiên.
Sự xâm lấn của UTCTC tới thân tử cung có thể gây nên hiện tượng ứ mủ tử cung. Khi ung thư xâm lấn vào đáy dây chằng rộng sẽ gây ra dấu hiệu và triệu chứng của bệnh viêm hố chậu mạn tính. Hình 24.
UTCTC xâm lấn xuống phía dưới vào âm đạo, cuối cùng sẽ xâm lấn tới bàng quang hoặc trực tràng gây nên lỗ rò. Xâm lấn theo phía sau theo dây chằng tử cung-cùng, có thể vào đám rối cùng, gây nên đau dây thần kinh hông. Hình 25.

-UTCTC di theo đường bạch huyết. Thường đi sau, nhưng cũng có thể xuất hiện trước cả hiện tượng xâm lấn trực tiếp. Sự di căn của UTCTC theo mạng lưới bạch mạch dẫn lưu cổ tử cung, thông thường theo nhóm hạch cạnh cổ tử cung tới nhóm hạch chậu ngoài; đôi khi các tế bào ác tính đi ra phía sau tới nhóm hạch chậu trong. Nhưng cũng có khi UTCTC di bất thường, chẳng hạn bỏ qua nhóm hạch chậu hông tới ngay nhóm hạch chủ hoặc thậm chí tới các hạch vùng cổ. Hình 26, hình 27.

-Rất hiếm UTCTC di theo đường máu.

4.CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT :

-Ung thư ở giai đoạn sớm cần chẩn đoán phân biệt với :

+Viêm lộ tuyến cổ tử cung.
Viêm cổ tử cung là hiện tượng viêm nhiễm của biểu mô cổ tử cung và tổ chức đệm, thường theo sau loét trợt. Hình 28.
Lộ tuyến là một tình trạng loét trợt hoặc viêm nhiễm ở một cổ tử cung bị hở hay bị rách. Hình 29.
Triệu chứng : Có thể không có một triệu chứng gì của các bệnh lý đã trình bày trong khi khám phụ khoa đã phát hiện ra, nhưng thường bệnh nhân than phiền có ra khí hư và các bệnh này thường là nguyên nhân chảy máu sau giao hợp. Chưa bao giờ viêm cổ tử cung được xác nhận là có nguy cơ đặc biệt trở thành ác tính.
Điều trị Loét cổ tử cung và Viêm cổ tử cung thường dùng phương pháp : Phẫu thuật lạnh [4] hoặc Thấu nhiệt [5]. Khi có nghi ngờ gì về bản chất của một thương tổn cổ tử cung, bao giờ cũng phải tiến hành sinh thiết trước khi chữa bằng phẫu thuật lạnh, hoặc phương pháp thấu nhiệt.

+Loét cổ tử cung.
Là tình trạng quá phát của biểu mô trụ thay thế biểu mô lát tầng chung quanh lỗ cổ tử cung. Lộ tuyến có hình ảnh thô ráp và cảm giác như nhung. Nó là một tình trang lạc vị trí của biểu mô trụ theo mô tả của thuật ngữ hiện đại. Tuy nhiên từ loét / loét trợt vẫn còn được dùng một cách rộng rãi.
Nguyên nhân :
*Sinh đẻ.
*Thuốc tránh thai.
*Tồn tại một tình trạng bình thường ở tuổi nhỏ.
Hình Loét trợt đơn thuần và hình vi thể : Hình 30, 31.

-Ung thư giai đoạn muộn cần chẩn đoán phân biệt với :

+Lộ tuyến nhiễm khuẩn.

+Lao cổ tử cung.
Lao là tình trạng thường xảy ra thứ phát sau viêm nhiễm ở ống dẫn trứng hoặc tử cung, nó có thể xùi hay loét, với hình ảnh không khác gì một loét trợt.
Thường thấy bệnh kết hợp với viêm hố chậu mạn tính và vô sinh. Việc chẩn đoán phải dựa vào xét nghiệm tế bào học và giải phẫu bệnh lý.

+Giang mai cổ tử cung.
Một săng giang mai nguyên phát có thể xuất hiện tại cổ tử cung. Săng này loét và ngấm cứng. Hình 32.

+Pôlíp cổ tử cung.
Các pôlíp cổ tử cung là u hình hạt hay u có cuống xuất phát từ buồng cổ tử cung, thường kết hợp với viêm mạn tính cổ tử cung. Một u xơ dạng pôlíp cuả tử cung có thể xuất hiện như một pôlíp cổ tử cung.
Pôlíp thường là nguyên nhân của chảy máu bất thường, nhất là sau khi giao hợp, bao giờ cũng phải cắt bỏ pôlíp để xét nghiệm, tuy rằng khả năng ác tính ít xảy ra. Hình 180.

+Pôlíp nhầy cổ tử cung, khi có nhiễm khuẩn có thể có một bề ngoài rất đáng nghi ngờ, phải xét nghiệm pôlíp. Hình 33.

+U nhú cổ tử cung.

+U lồi cổ tử cung.

IV.XẾP HẠNG TNM VÀ XẾP GIAI ĐOẠN

Xếp hạng UTCTC theo UICC và Hiệp hội quốc tế sản phụ khoa (FIGO).

UICC UTCTC FIGO

Tis Ung thư tại chỗ 0
T0 Không có u trên lâm sàng I
T1 Khu trú ở cổ tử cung
T1a Xâm lấn vi thể Ia
T1b Xâm lấn 5mm chiều sâu tính từ màng đáy Ib
T2 Lan tới âm đạo, trừ 1/3 dưới II
Lan tới túi cùng nhưng không tới vách chậu
T2a Không xâm lấn dây chằng rộng IIa
T2b Có xâm lấn dây chằng rộng IIb
T3 Lan tới 1/3 dưới âm đạo III
T3a Lan tới âm đạo 1/3 dưới, không lan tới vách chậu IIIa
T3b Lan tới túi cùng, vách chậu IIIb
T4 Lan tới bàng quang, trực tràng hoặc xa hơn vùng chậu IVa
M0 Không di căn xa
M1 Có di căn xa IVb

+Giai đoạn Ia : Ung thư xâm lấn vi thể vượt qua màng đáy không quá 3mm, chưa xâm nhập vào mao mạch và các mạch bạch huyết. Hình 34.
+Giai đoạn Ib : Khối u còn khu trú ở cổ tử cung hoặc thân tử cung (Giai đoạn này gồm các phát hiện giải phẫu bệnh lý mà lâm sàng chưa thấy rõ). Hình 35.
+Giai đoạn IIa : Ung thư lan tràn vào âm đạo nhưng chưa quá 2/3 trên. Hình 36.
+Giai đoạn IIb : Ung thư lan tới đáy dây chằng rộng nhưng chưa tới thành chậu hông. Hình 37.
+Giai đoạn III : Sự xâm lấn của ung thư ở giai đoạn III tới 1/3 dưới âm đạo hoặc tới thành chậu hông. Hình 38.
+Giai đoạn IV : Sự xâm lấn của ung thư ở giai đoạn IV xuyên qua âm đạo tới bàng quang hoặc trực tràng hoặc vượt ra ngoài chậu hông. Hình 39.
Sự xếp loại giai đoạn được đặt ra sau khi thăm khám âm đạo và trực tràng, kèm theo soi bàng quang và soi đại tràng sigma khi có chỉ định, đối với các trường hợp còn nghi ngờ thì xếp vào giai đoạn nhẹ hơn thực tế.
Có 2 nguồn sai lầm nặng là :
1.Không thể phân biệt được tình trạng dày lên do ung thư và do viêm nhiễm ở một đáy dây chằng rộng bị ngấm cứng.
2.Các hạch bạch huyết chậu hông có thể bị di căn mà không to lên. Tần xuất di căn hạch chậu hông là :
-Giai đoạn I : 15%.
-Giai đoạn II : 30%.
-Giai đoạn III : 45%.
Các phẫu thuật viên tiến hành phẫu thuật điều trị, cơ bản cũng xếp loại các trường hợp bệnh của mình theo “số phần trăm còn mổ được” so với toàn bộ số bệnh nhân nặng.


V. ĐIỀU TRỊ :

Điều trị nhằm mục đích giải quyết bằng phẫu thuật, bằng xạ trị hoặc kết hợp cả hai.

a)Phẫu thuật là cách điều trị duy nhất đối với các khối u quá lớn hoặc kháng tia xạ.
-Phẫu thuật chỉ được tiến hành :
+Do các thầy thuốc phụ khoa đã được huấn luyện về phẫu thuật cơ bản, hoặc các bác sĩ phẫu thuật quen phẫu thuật phụ khoa.
+Bệnh nhân phải chịu được phẫu thuật.
+Khối u phải còn mổ được, không dính vào hố chậu và chưa di căn tới các hạch cạnh chủ.
-Tỷ lệ tử vong do mổ là 1-3% (do huyết khối tắc mạch hoặc nhiễm khuẩn), và vì có thể luôn luôn ảnh hưởng tới sự cấp máu cho niệu quản nên thường có nguy cơ gây rò niệu quản (trong khoảng 1-10%.
-Có thể bảo tồn các buồng trứng mà không ảnh hưởng tới điều trị.

b)Xạ trị.
-Xạ trị có thể áp dụng đối với bất cứ giai đoạn nào của bệnh UTCTC và cho bất cứ bệnh nhân UTCTC nào. Tuy nhiên trên thực tế có một số khối u kháng tia xạ, hoặc u quá lớn để có thể giải quyết được bằng xạ trị.
-Xạ trị phải thực hiện ở bệnh viện chuyên xạ trị, và có kinh nghiệm xạ trị trong phụ khoa.
-Thực tế không có tỷ lệ tử vong trong xạ trị. Do :
+Tia phụ thuộc vào liều lượng tia xạ.
+Việc điều trị trong một chừng mực nào đó phụ thuộc vào liều xạ.
Nên bao giờ cũng có một số biến chứng do tia xạ gây nên, chức năng của buồng trứng bị phá huỷ và có thể cần đến liệu pháp estrogen thay thế. Cách điều trị phổ biến nhất là xạ trị đơn thuần, nhưng ¼ các thương tổn ở giai đoạn I được xử trí bằng xạ trị trước khi mổ, rồi sau đó tiến hành phẫu thuật căn bản. Mức độ cứu sống phụ thuộc vào 2 yếu tố là : Chẩn đoán sớm và Không có di căn hạch bạch huyết.

c)Kết quả điều trị theo Proc. RCOG tháng 2/1980, tỷ lệ cứu sống 5 năm :

Giai đoạn 1950-54 1969-72
I 75% 81%
II 53% 60%
III 26% 30%
IV 7% 8%


1.CARCINOMA INSITU HOẶC TIỀN XÂM LẤN

-Khoét chóp cổ tử cung.
-Cắt tử cung hoàn toàn.

2.UNG THƯ XÂM LẤN CỔ TỬ CUNG :

-Giai đoạn Ia hay là ung thư xâm lấn vi thể :
Phẫu thuật cắt tử cung tận gốc biến đổi (Wertheim – Meigs).
-Giai đoạn Ib :
Đặt Radi tử cung âm đạo sau đó phẫu thuật Wertheim – Meigs là : Cắt tử cung hoàn toàn + 2 phần phụ + kèm theo vét hạch chậu 2 bên.
-Giai đoạn IIa :
Có thể xử trí như giai đoạn Ib hoặc điều trị tia xạ tiền phẫu, rồi phẫu thuật, sau đó tia xạ hậu phẫu.
-Giai đoạn IIb, IIIa, IIIb và IVa :
Tia xạ tại chỗ kết hợp tia xạ từ ngoài vào.
-Giai đoạn IV :
+Điều trị triệu chứng.
+Chăm sóc trong giai đoạn cuối cùng, khi đã thừa nhận là các biện pháp điều trị tạm thời không thể hoặc không còn trì hoãn được quá trình tự nhiên của căn bệnh ung thư giai đoạn cuối.
*Hỗ trợ về tâm lý do người thân, bạn bè, cha cố hoặc nhà sư cũng như y tá, bác sỹ thực hiện. Người bệnh đang chết dần có thể cảm thấy lo sợ cái chết, lo lắng về những người phụ thuộc vào mình và mắc chứng trầm cảm. Thái độ và lượng thông tin đối với người bệnh phụ thuộc hoàn toàn vào điều được cho là cách tiếp cận tốt nhất trong từng hoàn cảnh. Thực là độc ác khi làm tan nát mọi hy vọng khi người bệnh đã được chuẩn bị tốt về tư tưởng.
*Hỗ trợ về thực tế. Cần làm giảm sự đau đớn bằng cách cho các thuốc giảm đau đủ liều, và không chỉ đơn thuần “theo yêu cầu”. Phần lớn các thuốc giảm đau gây nên trạng thái lơ mơ, song hiện tượng này mất dần đi sau ít ngày. Có thể dùng một loại phenothiazin, chẳng hạn như prochlorperazin (Stemetil) để làm giảm buồn nôn.
*Công tác hộ lý bình thường bao gồm : phòng ngừa loét do nằm, chống táo bón, mất ngủ, v.v…
*Các thuốc giảm đau cần thiết :

MORPHIN 1.Tới liều 64mg trong 4 giờ Thuốc giảm đau mạnh tác
nước chloroform. dụng tốt nhất. Dùng phối
2.MST CONTINUS 4 giờ hợp với phenothiazin.
Viên 30g giải phóng từ từ.
PHENAZOZIN Viên 5mg 8 giờ Mạnh hơn Morphin.
(Narphen)
OXYCODON Đạn hậu môn 30mg 8 giờ Tác dụng bằng Morphin.
(Proladon)
DEXTROMORAMID Viên 10mg hoặc đạn hậu 2 giờ Mạnh hơn Morphin nhưng
(Palfium) môn tác dụng ngắn hơn.
METHADON Viên 5mg Tới 12 Tác dụng yếu hơn Morphin
(Physepton) giờ song tác dụng dài hơn.
INDOMETHACIN, Vào khoảng 100mg 6 giờ Có hiệu quả đối với đau
FLURBIPROFEN Viên do di căn xương.
Nhóm kháng
prostaglandin

VI.TIÊN LƯỢNG :

-Tuỳ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh.
-Tình trạng thai nghén làm tiên lượng xấu thêm.
-Tuổi dưới 30 có tiên lượng xấu hơn.

VI.PHÒNG BỆNH UTCTC :

-Cần hướng vào một số điểm sau :
+Không để bệnh phát sinh.
+Khi có bệnh không để bệnh nặng lên.
+Không để bệnh tái phát.
-Một số biện pháp cụ thể :
+Tuyên truyền, phổ cập kiến thức về bệnh UTCTC.
+Xây dựng chế độ khám phụ khoa định kỳ cho chị em phụ nữ, đặc biệt lứa tuổi có nguy cơ cao, phụ nữ đã có gia đình, trên 30 tuổi, 6 tháng khám 1 lần, đặc biệt cần làm được tế bào học âm đạo.
-Các cơ sở khám phụ khoa phải có phương tiện để chẩn đoán sớm, điều trị sớm những tổn thương lành tính.
-Nâng cao năng lực chuyên môn của các thầy thuốc nhất là các thầy thuốc sản phụ khoa và chuyên khoa ung thư.

VIII. ĐIỀU TRỊ UTCTC BẰNG ĐÔNG Y

1)Triệu chứng (TC) : Người bứt rứt, miệng khô, ngực sườn đầy tức khó chịu, đau bụng dưới, mất ngủ mê nhiều, kinh sớm, khí hư ra nhiều, quanh lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, mạch huyền tế hoặc huyền hoạt.
Chẩn đoán (CĐ) : Can khí uất trệ.
Phép chữa (PC) : Sơ can giải uất.
Phương (P ) : Tiêu dao tán [11] gia vị.
Dược (D) : Bạch thược, Bạch truật, Bạch linh, Sài hồ, Đương quy đều 15g, Cam thảo, Bạc hà, Gừng lùi đều 8g; +Trần bì, Hương phụ, Ô dược, Nhân trần đều 12g. Sắc uống.

2)TC : Miệng khô đắng, bụng dưới đau, tức lưng, khí hư nhiều đục như nước vo gạo hoặc vàng thối, cổ tử cung loét hoại tử nhiễm trùng nặng, chất lưỡi đỏ thẫm, rêu lưỡi vàng dày, mạch hoạt sác.
CĐ : Nhiệt độc uất kết ở hạ tiêu.
PC : Thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tán kết.
P : Sơ can thanh vị hoàn [12] gia giảm.
D : Bạch hoa xà thiệt thảo 24g, Thất diệp nhất chi hoa, Thổ phục linh, Hạ khô thảo, Kim ngân hoa, Bồ công anh, Liên kiều, Lậu lô, Quất diệp, Bạch Cúc hoa, Tử hoa địa đinh, Sơn từ cô, Bạch chỉ , Qua lâu nhân, Thuyên thảo, bột Xuyên bối mẫu (hoà uống) đều 12g, Trần bì 8g, Nhũ hương, Một dược, Nhị đầu tiêm (cứt chuột nhắt - Thử mễ) đều 4g. Sắc uống.

3)TC : Lưng đau thắt, váng đầu, ù tai, khó ngủ mộng mị nhiều, lòng bàn chân tay nóng, miệng khô táo bón, lưỡi đỏ rêu mỏng, mạch huyền sác hoặc tế sác.
CĐ : Can thận âm hư.
PC : Tư dưỡng can thận, hoạt huyết tiêu độc.
P : Tri bá địa hoàng thang [13] gia giảm.
D : Sinh địa 32g, Hoài sơn, Sơn thù đều 16g, Đơn bì, Phục linh, Trạch tả, Tri mẫu, Hoàng bá đều 12g; + Trư linh, Qua lâu nhân, Hạ khô thảo, Đương quy vỹ, Xích thược, Đan sâm đều 12g, bột Tam thất 6g (hoà uống).

4)TC : Tinh thần mệt mỏi, chân tay yếu lạnh, lưng đau ngực tức, khí hư ra nhiều, tiêu lỏng, thân lưỡi bệu, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược.
CĐ : Tỳ thận dương hư.
PC : Ôn tỳ thận, trừ thấp.
P : Chân vũ thang [14] gia vị.
D : Phụ tử chế 10g sắc trước, Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh, Bạch thược đều 12g, Ô tặc cốt, sinh Hoàng kỳ đều 20g, Ngô thù du 8g, Tiểu hồi 6g, Gừng tươi 12g.

5)Nghiệm phương :

1.P : Yết ngô nhuyễn hoá thang [15]. Hiệu quả điều trị 13 ca : 1 ca sống 20 năm, 3 ca trên 13 năm, 4 ca trên 8 năm, 3 ca trên 2 năm, 2 ca sống 6 tháng.
D : Toàn yết 6g, Ngô công 3 con, Côn bố, Hải tảo, Đương quy, Tục đoạn, Bán chi lien, Bạch hoa xà thiệt thảo đều 24g, Bạch thược, Hương phụ, Phục linh đều 15g, Sài hồ bắc 9g sắc uống, Vân Nam bạch dược 2g nuốt uống.

2.P : Thiềm hùng giải độc phương [16]. Hiệu quả điều trị 42 ca, kết quả khỏi 33 ca, sống 8 ca, chết 1 ca.
D dùng ngoài cho thể loét : Thiềm tô 15g, Hùng hoàng 3g, Bạch cập 12g, Phê thạch, Ngũ bội tử đều 1,5g, Minh phàn 60g, Nạo sa 0,3g, Tam thất 3g, tán bột mịn, thêm 60g bột tiêu viêm, trộn đều.
D dùng ngoài cho loại ung thư nông : Nhũ hương, Một dược đều 18g, Nhi trà, Bằng sa, Nạo sa, Băng phiến đều 9g, Hùng hoàng, Xà sàng tử đều 12g, Chung nhũ thạch 10g, Huyết kiệt, Xạ hương đều 6g, Minh phàn 60g. Tán bột mịn, trộn đều.
D uống trong cho thể Can uất khí trệ : Nhân trần 15g, Ngọc kim, Thanh bì, Trần bì, Hương phụ, Đương quy, Bạch thược đều 9g.
D uống trong cho thể Can thận âm hư : Tri mẫu, Trạch tả đều 9g, Sinh địa 12g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, Hạn liên thảo, Thảo hà xa, Hoài sơn đều 15g, Hoàng bá 5g.
D uống trong cho thể Thấp nhiệt độc thịnh : Thảo hà xa 15g, Bạch hoa xà thiệt thảo, Thổ phục linh đều 30g, Bán chi liên 15g, Thương truật, Biển súc, Xích thược đều 9g sinh Ý dĩ 12g, Hoàng bá 6g.

3.P : Hoàng lăng phương [17]. Kết quả điều trị 24 ca : 9 ca tốt có 3 ca sống trên 3 năm, 2 ca trên 2 năm, 3 ca trên 1 năm, 3 ca tiến bộ, 12 ca không kết quả.
D : Hoàng kỳ 45g, Tam lăng, Đương quy, Nga truật, Tri mẫu, Đào nhân đều 16g, Kê nội kim, Xuyên sơn giáp, Đảng sâm đều 15g, Hương phụ 12g, Thuỷ điệt 30g, tán bột mịn uống, môi ngày 2-4 lần, mỗi lần 3-6g. Đắp ngoài tại chỗ : Tam lăng 35g, Nga truật, Nhũ hương, Một dược đều 15g, Đồng lục 5g, Nạo sa 8g, A nguỳ 10g, Thiềm tô 0,6g, Xạ hương 0,15g, Băng phiến 0,3g.

4.Tử thạch anh thang [18]. Kết quả điều trị 60 ca : 3 ca hết triệu chứng, khối u tiêu hoặc không phát triển, theo dõi 3 năm; 9 ca tiến bộ, triệu chứng giảm, theo dõi 1 năm bệnh không phát triển; 3 ca ổn định, triệu chứng khối u trong 10 tháng không thay đổi; 16 ca kết quả tốt rồi xấu đi; 29 ca xấu đi và tử vong.
D : Tử thạch anh 30g, Đảng sâm, Hoàng kỳ đều 12-15g, Lộc giác phiến 9g, Xích thạch chi 15g, A giao sao 6g hoà uống, Đương quy thân, Bạch thược đều 12g, Bào khương 3g. Sắc uống.
GG :
-Tỳ vị hư yếu, trung khí hạ hãm, bỏ : Bào khương, A giao; thêm : Bạch truật, Trần bì, Thăng ma, Sài hồ đều 12g.
-Thấp nhiệt hạ chú, bỏ : Hoàng kỳ, Đảng sâm, A giao, Bào khương, Lộc giác phiến; thêm : Sinh địa, Quy bản, Hoàng bá, Xuân căn bì, Hương phụ chế đều 12g, bột Hổ phách 2g.
-Bụng có khối u, thêm : Hạ khô thảo, Toàn Qua lâu, Quy bản, Tượng Nha tiêu đều 12g.
-Xích đới nhiều, thêm : Sinh địa, Đan bì, Tiên hạc thảo, Mẫu lệ nung đều 12g.
-Bạch đới nhiều, thêm : Xà sàng tử 4g, Hoàng cầm, Xuân căn bì đều 12g.
-Chân tay phù, thêm : Phòng kỷ, Mộc qua, Ngưu tất, Phục linh đều 12g.

5.Hạ đậu hà xa thang [19]. Kết quả điều trị 57 ca : 6 ca kỳ I khỏi trước mắt; 24 ca kỳ II : 7 ca khỏi trước mắt, 13 ca kết quả tốt, 3 ca có kết quả; 15 ca kỳ III : 1 ca kết quả trước mắt, 13 ca tốt, 4 ca có kết quả; 5 ca kỳ IV : 1 ca kết quả tốt.
D :
-Trước hết uống 6 thang : Hạ khô thảo, Sơn đậu căn, Thảo hà xa đều 30g, Thiên hoa phấn, Thuyên thảo, Sài hồ đều 15g, Tam lăng, Nga truật đều 9g.
-Uống tiếp 3 thang : Đương quy, Sài hồ, Kê nội kim đều 15g, Đảng sâm 30g, Bạch truật, Bạch thược, Phục linh, Thanh bì, Ô dược, Cam thảo đều 9g
-Phối hợp thuốc đắp ngoài : Ô mai 18g, Nha đảm tử, Nạo sa, Thiềm tô đều 9g, Mã tiền tử, Khinh phấn, Hùng hoàng, Hồng phê đều 6g.
-Thời kỳ cuối, bệnh nhân đau nhiều, dùng : Đại hoàng sao rượu, Đào nhân, Ý dĩ, Nhũ hương, Một dược, Xuyên khung, Xuyên luyện tử đều 9g, Qua lâu, Tiểu hồi hương, Sài hồ, Kim ngân hoa đều 15g, Mang tiêu, Trạch tả, Quế chi đều 6g, Đương quy 12g, Bạch thược 19g, Ngưu tất 5g. Sắc uống.

6. P : Tam phẩm bỉnh phương [20]. Kết quả điều trị 162 ca : 35 ca sống trên 5 năm; 91 ca sống trên 3 năm.
D : dùng ngoài : Bạch phê 45g, Minh phàn 60g, Hùng hoàng 7,2g, Một dược 3,6g, chế thành bánh hình trụ, mỗi đợt 5-7 ngày dùng thuốc một lần, liên tục 3-4 tuần, lúc làm thuốc dùng vải gạc bôi Vaseline để bảo vệ âm đạo. Thuốc phụ trợ : Tử thảo, Tử hoa địa đinh, Thảo hà xa, Hoàng bá, Hạn liên thảo đều 30g, Băng phiến 3g, tán bột dùng ngoài.

7. P : Ung thư cổ tử cung [21].
D : Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bạch anh, Đông quỳ, Bán biên liên, Trư ương ưong đều 30g. Ngày 1 thang sắc uống.

8. P : Ung thư cổ tử cung [21].
D 16 : Bán chi liên 60g, Lậu lô 30g. Ngày 1 thang sắc uống.

9. P : Viên nang Tinh Nghệ vàng ĐTĐ 500mg và viên nang Kháng nham 2 ĐTĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên mỗi loại. Kết hợp với ăn hàng ngày, thay bữa ăn phụ :
Bột hỗ trợ điều trị ung thư Phúc Linh-ĐTĐ có thành phần : Tinh nghệ vàng, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên, Bột đỗ xanh, Hạt sen, Đậu, Mật ong, … [22]

PHỤ LỤC :

[1].Virus HSV.
[2].Virus HPV.
[3].Phiến đồ cổ tử cung.
Phiến đồ cổ tử cung là một biện pháp ngoại trú. Dùng que gạt Ayre làm phiến đồ đạt được kết quả ổn định nhất. Hình 40.
Đặt mỏ vịt vào trong âm đạo để bộc lộ cổ tử cung. Đặt đầu nhô rộng tiện tròn của que gạt vào trong ống cổ tử cung và quay vòng vét vùng nối giữa biểu mô lát tầng và trụ.
Bệnh phẩm thu được phết lên các phiến kính, cố định trong dung dịch gồm 2 phần bằng nhau cồn ethylic 95% và ête, sau đó nhuộm theo phương pháp Papannicolaou. Thuốc nhuộm gồm : (1) Hematoxylin để nhuộm nhân, (2) Vàng cam G, (3) Hỗn hợp Bismark-nâu, eosin vàng nhạt và phẩm lục tươi. Các thuốc nhuộm (2), (3) là các phẩm nhuộm bào tương. Các tế bào già hút màu vàng cam G và eosin, còn các tế bào chưa trưởng thành bắt màu lục tươi.
Nhận định phiến đồ cổ tử cung : Phiến đồ được chia làm 3 loại :
1)Âm tính : Không có dấu hiệu CIN. Hình 41.
2)Nghi ngờ, không điển hình, nhân dị dạng. Hiện tượng này có nghĩa là có tình trạng ít nhiều tế bào không điển hình (CIN 1), nó có thể trở lại trạng thái bình thường. Hình 42.
3)Dương tính. Có sự hiện diện các tế bào bất thường một cách rõ rệt, cho thấy khả năng có một quá trình ác tính (CIN 2 hoặc CIN 3).
+Trong CIN 2, phiến đồ cho thấy có trạng thái hỗn hợp giữa tế bào bình thường và tế bào nhân dị hình-nhân bất thường.
+Trong CIN 3, hầu như toàn bộ các tế bào đều bất thường, nhân to hơn với chất nhiễm sắc thô.
Nói chung không thể phân biệt giữa CIN 2 và CIN 3 trên phiến đồ được, đòi hỏi phải sinh thiết để làm xét nghiệm tế bào học, giải phẫu bệnh lý.
Tầm quan trọng theo dõi bệnh nhân có phiến đồ bất thường được nhấn mạnh trong bản thống kê theo Kinlen và Sprigg, Lancet, 1978, II, 463.

Bệnh nhân có phiến đồ bất thường bỏ không theo dõi : 60
34 người trong số này được khám lại sau từ 3-10 năm với kết quả như sau :
Số phát hiện thành ung thư xâm lấn 10 (30%
Số chết vì bệnh này 5 (15%
Số có phiến đồ bình thường 19 (55%
Việc phát hiện bệnh bằng phiến đồ cổ tử cung dựa vào các lý lẽ thực tế là :
+Có thể phát hiện và tiêu diệt bằng cắt bỏ một ung thư xâm lấn ở giai đoạn tiền ung thư rất sớm.
+Giai đoạn tiền ung thư kéo dài tới hai mươi năm hoặc lâu hơn.
Do UTCTC có liên quan đến quan hệ tình dục, do vậy việc phát hiện nên bắt đầu cùng thời gian với hoạt động tình dục, có nghĩa là khoảng 18 tuổi. Nhưng người ta chẳng thu được gì khi điều trị sớm các phiến đồ dương tính, đặc biệt sự phát triển tự nhiên thành bình thường có thể gặp ở người trẻ tuổi. Số lượng các biến đổi lớn nhất từ tình trạng bình thường thành CIN được phát hiện ở nhóm tuổi từ 25-29. Do UTCTC xâm lấn là một bệnh của tuổi trung niên, việc phát hiện thường quy tích cực cần được tập trung vào lứa tuổi 25-35.
Phiến đồ lần đầu tiên bao giờ cũng phải làm cho bất kỳ người phụ nữ nào đang tuổi hoạt động tình dục dù họ bao nhiêu tuổi. Đối với phụ nữ trước đã phát hiện bình thường, thì cứ khoảng 3 năm làm lai một lần; ở nhóm tuổi từ 35-45 nên làm cách một năm một lần để tránh những phiến đồ âm tính giả. Tỷ lệ tử vong do UTCTC còn tiếp tục ở tuổi già, do đó, không có lý do gì về lâm sàng để ngừng việc phát hiện cho tới lúc người bệnh không muốn nữa.

[4].Phẫu thuật lạnh điều trị Loét trợt, Viêm cổ tử cung và Ung thư biểu mô cổ tử cung đối với phụ nữ còn trẻ và khi còn là CIN1, có chỉ định điều trị bảo tồn.
Phẫu thuật lạnh mới được phát triển thay cho đốt nhiệt hoặc liệu pháp thấu nhiệt và được dùng như một biện pháp điều trị ngoại trú tiện lợi.
Nhiệt độ cực áp lạnh giảm xuống tới -50 độ C trong vòng 2 phút do hiệu ứng nội nhiệt của oxyt nitơ lấy trong nhiệt tiềm tàng của nguyên liệu khi nó được giảm áp, sau khi được phun với áp xuất lớn qua một lỗ hẹp. Đây là nguyên lý hoạt động của tủ lạnh gia đình.
Thời gian điều trị mất khoảng 2 phút, hầu như không gây đau đớn gì.
Trạng thái cực lạnh làm cho mô cổ tử cung dính vào kim loại, phải đợi 30 giây để tan băng mới rút được cực lạnh ra. Bệnh nhân sẽ ra khí hư như nước trong vòng 2 tuần. Cần kiêng giao hợp trong nửa tháng. Hình 43 và 44.

[5].Phương pháp thấu nhiệt điều trị Loét trợt và Viêm cổ tử cung :
Trong phương pháp thấu nhiệt, mô bệnh bị phá huỷ bởi sức nóng cao sinh ra tại nơi cực hoặc mũi kim thấu nhiệt chạm vào cổ tử cung, và truyền dòng cao tần cho cơ thể tới cực điện phiếm buộc vào chân.
Tổ chức bị cháy rụng đi trong vòng 2 tuần lễ, vùng bị trơ ra, dần dần được biểu mô hoá.
Phương pháp này đòi hỏi phải được gây mê toàn thân và ra khí hư khó chịu hơn so với sau khi dùng phẫu thuật lạnh. Hình 45.


[11].Tiêu dao tán
Xuất xứ (XX) : Thái Bình huệ dân hoà tễ cục phương – Trần Sư Văn.
Công dụng (CD) : Sơ can giải uất.
Chủ trị (CT) : Can uất huyết hư dẫn đến đau liên sườn, ngũ tâm phiền nhiệt, đầu váng mắt hoa, hồi hộp, miệng khô, họng ráo, mỏi mệt kém ăn, nóng rét qua lại, ngực đầy, sườn đau, tỳ vị không hoà, kinh nguyệt không đều, bầu vú căng chướng, mạch hư huyền. Viêm gan mạn thể can uất tỳ hư.
Dược (D) : Bạch thược, Bạch truật, Bạch linh, Sài hồ, Đương quy đều 30g, Cam thảo 16g; +Bạc hà, Gừng lùi (Ổi khương). Sắc uống.
Phương giải (PG) : Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết nhu can; Sài hồ sơ can giải uất; Bạc hà hỗ trợ và giúp tác dụng sơ tán; Bạch truật, Cam thảo bồi bổ tỳ thổ; Bạch linh trừ thấp; Ổi khương và Đương quy, Bạch thược điều hoà khí huyết.

[12].Sơ can thanh vị hoàn
XX : Nghiệm phương của Sa Đồ Mục Tô.
CD : Tiêu sưng, hành huyết, thông kinh.
CT : Tình chí uất nộ, khí của can tỳ bị tích trệ.
D : Bạch chỉ, Bạch Cúc hoa, Bồ công anh, Bối mẫu, Độc hoạt, Hạ khô thảo, Kim ngân hoa, Lậu lô, Liên kiều, Bạch mao căn, Nhũ hương, Một dược, Qua lâu nhân, Quất diệp, Thiến căn, Thử mễ, Trần bì. Lượng đều nhau, tán bột, dùng nước sắc Hạ khô thảo làm hoàn. Ngày uống 40g.

[13].Tri bá địa hoàng thang
XX : Chứng nhân mạch trị – Tần Cảnh Minh.
CD : Tư âm, tả hoả.
CT : Các chứng âm hư hoả vượng, thận thuỷ bất túc, mạch đốc hư trống, xương khô, tuỷ giảm, nóng trong xương, xương nhức, xương yếu, cột sống khó cử động, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, họng đau, miệng khô lưỡi ráo, mạch xích vượng.
D : Tri mẫu, Hoàng bá đều 8g, Thục địa 32g, Hoài sơn, Sơn thù đều 16g, Đơn bì, Phục linh, Trạch tả đều 12g. Sắc uống.
Tên khác (TK) : Lục vị địa hoàng hoàn thêm Tri mẫu, Hoàng bá (Y phương khảo – Ngô Côn), Tri bá bát vị hoàn (Bút Hoa y kính – Giang Hàm Thôn).

[14].Chân vũ thang
XX : Thương hàn luận – Trương Trọng Cảnh.
CD : Ôn dương lợi thuỷ; / Ôn thận trục hàn, kiện tỳ, lợi thuỷ.
CT : Phù do tỳ thận dương hư, tiểu không lợi, sợ lạnh, bụng đau, mạch trầm.
D : Phụ tử chế 8g, Bạch linh, Bạch truật, Bạch thược đều 12g, Gừng tươi 3 lát. Sắc uống.
PG : Phụ tử rất cay rất nóng, ôn thận dương, khử hàn tà; Bạch linh, Bạch truật kiện tỳ lợi thuỷ; Gừng tươi ôn tán thuỷ khí, tăng tác dụng lợi thuỷ của Bạch linh; Bạch truật, Bạch thược hoà vinh, giảm đau, chua mặn liễm âm, lại hoà hoãn được tính cay nóng của Gừng và Phụ tử, không gây tổn âm.
TK : Ôn dương lợi thuỷ thang (Nội khoa học - Thượng Hải).

[15].Trần Minh Tín, Bệnh viện Trung Y Tuỳ Châu, Hồ Bắc.
[16].Bệnh Viện Trung Y Bắc Kinh.
[17].Nguỵ Vĩnh Hoà, Viện y học Thẩm Dương, Liêu Ninh.
[18].Bệnh Viện Thử Quang, thuộc Trung y học viện Thượng Hải.
[19].Bệnh viện trực thuộc Hà Nam y học viện.
[20].Dương Học Chí, Y viện bảo kiện phụ nữ Giang Tây.
[21].Kháng nham dược đại toàn.
[22].Chứng và cách chữa. Phác đồ điều trị của Đức Thọ Đường. Duc Tho Clinic


In ấn Trang trước  
Bài viết khác
< 1 2 3 4 >
Hội thảo kỷ niệm 50 năm ngày thành lập hội đông y Thành Phố Hà Nội(17/02/2011)
UNG THƯ THỰC QUẢN (08/09/2009)
BỆNH BẠCH CẦU CẤP (08/09/2009)
SÓI RỪNG (08/09/2009)
PHỔ KHÁNG KHUẨN ĐÔNG DƯỢC (08/09/2009)
Bài đọc nhiều
BẠCH HOA XÀ THIỆT THẢO
Các phương thuốc từ quả phật thủ
Để chữa ho nhiều đờm, hãy nhai cùi (liền cả vỏ) phật thủ tươi, nuốt dần nước. Đ...
Các thảo dược cải lão hoàn đồng
Việc lựa chọn thực phẩm tác động rất lớn đến sức khỏe và tuổi thọ con người. Từ...
Các thảo dược lợi mật, trị viêm gan
Tinh dầu nghệ làm tăng tiết mật. Nghệ còn có tác dụng chống viêm và tiêu diệt n...
Cách dùng sơn tra phòng chống rối loạn lipid máu
Nếu như trong y học cổ truyền, loại quả này chỉ giúp tiêu thực thì với y học hi...
Đăng ký nhận tin
Quảng cáo
+ Tư vấn chữa bệnh: 22107262 / 0989885625
Email: ledacquy30@yahoo.com.vn 
+ Phòng chẩn trị YHCT từ thiện Đức Thọ Đường
Bát Phúc, Hạnh Dân, Tân Lập, Đan Phượng, Hà Nội
+Chữa bệnh nan y xin mang theo kết quả xét nghiệm
 
Bản quyền thuộc về phòng khám Đức Thọ Đường
Điện thoại: 22107262 / 0989885625
Email: ledacquy30@yahoo.com.vn
Địa chỉ: Số 10 ngõ 77 phố Kim Hoa - Phương Liên -Đống Đa, Hà Nội
thong tac bon cau,thong tac bon cau,rut ham cau tai quan 5,hut be phot,thong tac ve sinh,hut be phot gia re,đèn pin,do du lich,leu traitao bonviem dai trangtre hoa daxoa seo ro
thiet ke website cho doanh nghiep,thiết kế website doanh nghiệp